Xem thêm Nữ vương bên trong, Hoàng hậu Esther đối đầu Hoàng hậu Vashti, Nữ hoàng Sheba
Từ Hy Lạp cho “thiên đàng” là ouranós – thiên đàng (số ít), và gần như thường xuyên được sử dụng ở số nhiều (“các tầng trời“). “Số ít và số nhiều có những sắc thái riêng biệt và do đó nên được phân biệt trong bản dịch (mặc dù đáng tiếc là chúng hiếm khi được phân biệt)”
(G. Archer)
Người ta có thể dịch nó theo nghĩa trừu tượng là “các tầng trời”, nhưng chúng ta hiểu rằng những “tầng trời” này là những đấng trên trời được đếm.
Từ Tân Ước cho “vương quốc” là basileia. Đây là một danh từ giống cái. Trong tiếng Hy Lạp cổ đại, từ này được dùng cho cả
- một nữ vương
- một vương quốc/sự cai trị
Các từ này giống hệt nhau. Vậy làm thế nào chúng ta biết liệu Tân Ước đang nói về một “nữ vương” thay vì một “nơi cai trị/vương quốc”?
Các học giả luôn chỉ ra ngữ cảnh. Từ điển Hy Lạp của Thayer chỉ đơn thuần tuyên bố: “βασιλεία, βασιλείας, ἡ (từ βασιλεύω; cần được phân biệt với βασιleía, một nữ vương.” Nhưng tại sao? Vì ngữ cảnh. Nhưng ngữ cảnh nào? Định kiến nào?
Sự thuần khiết về ngôn ngữ: Những người Do Thái nói tiếng Hy Lạp đối đầu với những người theo phái Atticist
Một từ cụ thể hơn được dùng cho “nữ vương” trong Tân Ước là basilissa βᾰσῐλισσα chỉ được tìm thấy bốn lần. Trong bản dịch Septuagint của Cựu Ước, các dịch giả Do Thái đã sử dụng hình thái này. Nhưng hình thái đầu tiên “basileia” là hình thái được Josephus và những người theo phái Atticist ưa chuộng hơn. Mục từ “nữ vương” trong Từ điển Hy Lạp của Thayer (xem #938) cho biết: “bản Sept.; Josephus; những người theo phái Atticist thích các hình thái βασιλίς [basilis] và βασιλεία [basileia]…“
βᾰσῐλ-ισσα, ἡ, = βασíλειᾰ, nữ vương
Theo Từ điển Hy Lạp-Anh LSJ (Liddell-Scott-Jones), một tài liệu tham khảo tiêu chuẩn cho tiếng Hy Lạp cổ đại, “basilissa” tương đương với “basileia”, nghĩa là nữ vương. Nó được chứng thực trong nhiều nguồn khác nhau như Oeconomicus 9.15 của Xenophon, các đoạn văn được cho là của Alcaeus và Aristotle trong Anecdota Graeca của Bekker, và trong các tác phẩm của Philemon như được trích dẫn trong Athenaeus XIII.595c. Những người theo phái Atticist đã bác bỏ hình thái này vì không thuộc phương ngữ Attic, với lần đề cập duy nhất của nó ở Sparta bởi Theocritus 15.24 và trong các tác phẩm của Polemo thường xuyên hơn. (xem “βασίλισσα – Logeion“)
Các dịch giả bản Septuagint và những người theo phái Atticist đại diện cho những mục tiêu văn hóa và ngôn ngữ khác biệt. Bản Septuagint, bản dịch tiếng Hy Lạp của Kinh Thánh Do Thái được hoàn thành vào thế kỷ thứ 3 TCN, nhằm mục đích làm cho kinh thánh Do Thái có thể tiếp cận được với những người Do Thái nói tiếng Hy Lạp ở Alexandria. Do đó, phương pháp dịch thuật phần lớn dựa trên đối tượng độc giả Do Thái. Bản dịch này sử dụng tiếng Hy Lạp Koine, phương ngữ phổ biến thời bấy giờ, để đảm bảo sự hiểu biết thực tế và tôn giáo về các truyền thống Do Thái đã tồn tại từ lâu. Liệu truyền thống và định kiến của họ có đúng không? Vài thế kỷ sau đó, một người đàn ông tên là “Sự Cứu Rỗi” đã nói một cách dứt khoát rằng họ không đúng. Ông gọi các nhà lãnh đạo, kinh sư và luật gia là “những kẻ trộm”, “những kẻ nói dối” và “những kẻ đạo đức giả”. Chính người đàn ông này sau đó đã rao giảng về một “basilea” của “các tầng trời” như một thông điệp cốt lõi về sự cứu rỗi và sự phán xét sắp giáng xuống thế gian. Ngữ cảnh này không phù hợp với việc tuân theo cách giải thích và các hình thái ngôn ngữ của người Do Thái cho thông điệp phúc âm của chính ông.
Ngược lại, những người theo phái Atticist, hoạt động từ thế kỷ thứ 2 TCN đến thế kỷ thứ 2 CN, đã tìm cách bảo tồn và mô phỏng phương ngữ Hy Lạp Attic cổ điển của Athens thế kỷ thứ 5 và thứ 4 TCN. Họ tập trung vào việc duy trì sự thuần khiết về ngôn ngữ và sự thanh lịch về phong cách của các tác giả Athens cổ điển, vì mục đích giáo dục và hùng biện (hãy nghĩ đến các triết gia) trong thế giới nói tiếng Hy Lạp. Trong khi bản Septuagint tập trung vào truyền thống tôn giáo và văn hóa của người Do Thái, những người theo phái Atticist nhấn mạnh vào sự trung thành với văn chương và phong cách, ảnh hưởng đến giáo dục tinh hoa và sự trân trọng văn học Hy Lạp cổ điển.
Để đọc thêm:
- Carawan, Edwin. The Attic Orators. Oxford University Press, 2008.
- Innes, Doreen C. (biên tập). Greek Literary Criticism: From Plato to the Present. Routledge, 2001.
Những người con của Vương quốc hay của Nữ vương?
Nếu ngữ cảnh ngữ nghĩa có bất kỳ tiếng nói nào về dịch thuật, thì có vẻ như ngữ cảnh ngữ nghĩa của Ma-thi-ơ 13:38 sẽ rất rõ ràng:
Cánh đồng là Thế giới và hạt giống tốt [số ít]—những người này là những người con của nữ vương…
Ma-thi-ơ 13:38 RBT
“Mẹ của tất cả chúng ta…” (Ga-la-ti 4:26)
“Những người con của vương quốc” xét về mặt ngữ nghĩa thì ít hợp lý hơn nhiều so với “những người con của nữ vương”. Có lẽ về mặt thi ca hoặc thành ngữ thì được. Các bài bình luận coi đó là một thành ngữ Do Thái dành cho người Do Thái, nhưng họ khá bối rối vì “những người con của vương quốc” bị quăng vào nơi tối tăm bên ngoài (Mat. 8:12) VÀ “những người con của vương quốc” được gọi là hạt giống tốt (Mat. 13:38)! Có điều gì đó rõ ràng là không ổn. Hãy cùng xem xét kỹ hơn.
“Nữ vương của những đấng trên trời giống như một kho báu được giấu trong một cánh đồng mà một người đàn ông đã tìm thấy…” Mat. 13:44 RBT
“Biết được tư tưởng của họ, Ngài phán với họ: ‘Toàn bộ nữ vương bị chia cắt/phân chia từ chính mình thì bị hoang vu, và toàn bộ thành phố hay nhà bị chia cắt/phân chia từ chính mình thì không đứng vững được.’ ” Mat. 12:25 RBT
Bấy giờ Chúa đáp lời và phán với cô ấy: “Martha, Martha, con lo lắng và xôn xao về nhiều việc. Nhu cầu thì ít, và Mary đã chọn phần tốt của một người, người sẽ không bị cắt đứt/loại bỏ khỏi chính mình.”
Lu-ca 10:42 RBT
Các nhà bình luận ở đây đã không hiểu được lý do cho các cuộc hôn nhân ở số nhiều:
“Nữ vương của những đấng trên trời đã trở nên giống như một người đàn ông, một vị vua đã tổ chức những lễ cưới [hôn nhân] cho con trai mình.” Mat. 22:2 RBT
“Từ những ngày của Giăng Người Nhúng cho đến nay, nữ vương của những đấng trên trời bị cưỡng bức và những kẻ hung bạo chiếm lấy bà.” Mat. 11:12 RBT
“Ngài đưa ra một ẩn dụ khác cho họ rằng: ‘Nữ vương của những đấng trên trời đã trở nên giống như một người đàn ông gieo hạt giống tốt trong cánh đồng của mình.'” Mat. 13:24 RBT
“Không phải tất cả, người nói với ta: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ sẽ được vào trong nữ vương của những đấng trên trời, ngoại trừ người làm theo ý muốn của cha ta, Đấng ở giữa những đấng trên trời.” Mat. 7:21 nghĩa đen
“Những Đấng Khôn Ngoan ở Bên Ngoài đang reo hò vui mừng nơi Đại Lộ; bà đang cất tiếng nói của mình. Tại đầu của những kẻ gầm thét, bà đang kêu gọi nơi các cửa thành trong Thành Phố, bà đang nói những lời của mình. Cho đến khi nào hỡi những kẻ khờ dại, các ngươi còn yêu sự khờ dại? Và những kẻ nhạo báng, chúng tự vui thích trong sự nhạo báng. Và những kẻ ngu muội ghét tri thức.” Châm ngôn 1:20-22 RBT
“Những Đấng Khôn Ngoan, bà đã xây nhà mình, bà đã đẽo ra bảy cây cột của mình. Bà đã giết con vật bị giết của mình, bà đã dọn bàn mình, bà đã sai những người bị phân tán của mình đi, bà đang đọc trên các thân thể của những nơi cao trong thị trấn. Ai là người khờ dại? Hãy rẽ vào đây. ‘Một trái tim thiếu thốn,’ bà đang nói với chính người đó.” Châm ngôn 9:2-4 RBT
Đại từ quan hệ giống cái ngôi thứ 3 số ít ở cách sở hữu (genitive) chính mình/bà ấy luôn được dịch là “nó” trong Mat. 11:12, 12:25 và các đoạn tương tự.